KỸ THUẬT SỬ DỤNG VI TẢO TRONG NUÔI TÔM

Hiện có nhiều kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạo cho ấu trùng, nhưng những thức ăn tự nhiên như: Vi tảo, luân trùng, giáp xác râu ngành, artemia, trùn chỉ…. vẫn được xem là thức ăn vô cùng quan trọng và có tiềm năng rất lớn trong sản xuất giống. Trong đó, luân trùng, vi tảo là một trong những thức ăn quan trọng đảm bảo sự thành công trong quá trình sản xuất tôm giống.

Thức ăn cần thiết

Tất cả các loài động vật thủy sản trong giai đoạn đầu của quá trình ương nuôi (sau khi nở từ trứng ra) đều ăn chung một loại thức ăn đó là động thực vật phù du – những sinh vật nhỏ có giá trị dinh dưỡng cao, có kích cỡ phù hợp với cỡ miệng của ấu trùng tôm, cá. Đây là hiện tượng độc đáo và rất hấp dẫn về khía cạnh thức ăn. Ấu trùng tôm, cá sau khi hết noãn hoàn rất khó ăn thức ăn công nghiệp do cơ thể có những đặc điểm như: Kích thước nhỏ (miệng nhỏ), mỏng manh, các cơ quan chưa phát triển đầy đủ: mắt, cơ quan cảm ứng hoá học, hệ thống tiêu hoá (ống tiêu hoá ngắn, enzyme tiêu hoá chưa đầy đủ). Vì vậy chúng cần được cung cấp nguồn thức ăn dễ tiêu: Chứa phần lớn các amino acid tự do, oligopeptid, các enzyme tiêu hoá có khả năng tự phân huỷ các hạt thức ăn và cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình phát triển mà trong đó thức ăn tự nhiên có thể đáp ứng được yêu cầu đó.

Vi tảo

Đến nay, có khoảng trên 40 loài tảo đã được phân lập, nuôi cấy và sử dụng làm thức ăn cho ấu trùng các loài thủy sản. Một số loại tảo chính như: Chlorella, Dunaliella, Spirulina, tảo khuê… Về phương thức sử dụng tảo, chúng thường được cho ăn trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sinh vật trung gian khác, ở dạng tươi sống hay chế biến, thuần chủng hay hỗn hợp nhiều loài. Mặc dù người ta thường áp dụng phương pháp cho đối tượng nuôi thủy sản ăn chỉ một loài tảo nào đó, nhưng Liao (1983) cho rằng: không có loài tảo đơn độc nào lại tốt nhất về mọi phương diện cho việc nuôi và sử dụng chúng làm thức ăn cho ấu trùng tôm he. Tầm quan trọng của tảo chính là từ giá trị dinh dưỡng của chúng.

Tuy nhiên, người ta chú ý đến giá trị dinh dưỡng của tảo không chỉ riêng thành phần protein mà còn là thành phần acid béo, yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được đối với ấu trùng của các loài hải sản. Trong nhiều trường hợp, tảo được báo cáo không phải là thành phần thiết yếu  trong khẩu phần ăn của các loài sinh vật biển, nhưng thực tế, chúng có thể là nhân tố thúc đẩy sinh trưởng của đối tượng nuôi hoặc có tác dụng như một vi khuẩn lọc nước (Fujimura và Okamoto, 1972; Barnabe, 1976; Cohen, Finkel và Sussman, 1976; Maddox và Sandifer, 1977; Malecha, 1983 -trích dẫn của Pauv và Persoone, 1991).

  • Spirulina

Cùng với Chlorella và Dunaliella, Spirulina cũng là loài tảo rất giàu protein, acid amin thiết yếu, acid béo, khoáng, vitamin và các hợp chất carotenoid nên chúng được xem là nguồn dinh dưỡng rất tốt trong nuôi thủy sản. Mustafa và ctv. (1994) báo cáo: Spirulina được thêm vào làm thức ăn bổ sung cho Pagrus major với tỉ lệ 5% đã làm tăng tốc độ tăng trưởng của cá, hiệu quả chuyển đổi thức ăn và hiệu suất sử dụng protein mà thành phần protein có trong thịt cá không bị ảnh hưởng  xấu. So với những loại tảo có kích thước lớn được thí nghiệm trước đó thì loài Spirulina ảnh hưởng tốt nhất đến sự tăng trưởng và sử dụng thức ăn của cá Red sea beam. El- (1994) cũng cho biết: tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Silver sea beam khác nhau không có ý nghĩa giữa nghiệm thức có bổ sung 50% Spirulina trong khẩu phần ăn với nghiệm thức đối chứng 100% bột cá. Tuy nhiên, thay 75% Spirulina thì có ảnh hưởng bất lợi.

Trong thí nghiệm về ảnh hưởng của khẩu phần ăn có bổ sung Spirulina cho cá chép bột (Catla catla, Labeo rohita, Cirrhinus mrigal, Hypophthalmichtys molitrix, Ctenopharigodon idella  Cyprinus carpio), Ayyappan và ctv. (1991) nhận xét: nghiệm thức cho ăn bổ sung 80% Chlorella cho kết quả tốt nhất. Chow và ctv (1990) khi nghiên cứu về tốc độ tăng trưởng, tính ăn ngon miệng, hoạt động của men tiêu hóa protein (protease) và men tiêu hóa tinh bột (amylase) nêu lên: không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm cá cho ăn thức ăn đối chứng và thức ăn bổ sung SpirulinaSpirulina cũng được đề nghị thay thế một phần bột cá trong chế độ ăn của cá rô phi O. mossambicus.

Stripped jack fish cũng được nghiên cứ về ảnh hưởng của các chế độ ăn với tỉ lệ bổ sung Spirulina khác nhua và người ta tìm ra rằng: Spirulina có ảnh hưởng đến sự tích lũy mỡ của cá và chỉ nên bổ sung Spirulina ở mức 5% để duy trì sự sinh trưởng bình thường của cá (Watanabe và ctv., 1990).

Boonyarapalin và ctv. (1989) nghiên cứu về sự thay đổi màu sắc của cá rô phi đỏ Oreoromic niloticus với các nguồn bổ sung sắc tố khác nhau, gồm: Spirulina marigoldPepal meal, bột đầu tôm, bột nghệ và thức ăn đối chứng, ông thấy rằng: tương ứng với các loại thức ăn trên, màu sắc của cá rô phi thay đổi: nâu đỏ, vàng lam, lam, cam và hơi cam. Thêm vào đó, sắc tố của cá chép trở nên đậm hơn khi cho cá ăn với khẩu phần có bổ sung 10% Spirulina. Nguồn cung cấp sắc tố khác là Marigold petal chỉ cho sự biến đổi màu nhẹ (Wutiporn-Phromkunthong, 1984).  Sự biến đổi màu sắc của tôm sú nuôi cũng được Okada và ctv. nghiên cứu. Với cá nguồn bổ sung carotenoid khác nhau trong khẩu phần ăn của tôm từ: b-caroten, Spirulina, Phaffia và krill oil, ông nhận thấy: Spirulina cho kết quả tốt nhất về sự gia tăng hàm lượng caroten trong vỏ của tôm. Đặc biệt, nên cho tôm ăn với chế độ ăn chiếm 3% Spirulina trong 1 tháng trước khi thu hoạch.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nguồn  protein khác nhau trong khẩu phần ăn của tôm thẻ (Penaeus indicus), Ali (1992) phát hiện: Spirulina và đậu phộng cho sức tăng trưởng của tôm tốt hơn có ý nghĩa so với bánh dầu dừa và gingerly cakes; hiệu quả sử dụng protein thô và giá trị sinh h5c của Spirulina cao hơn có ý nghĩa so với đậu phộng. Khi ương ấu trùng tôm he (Penaeus) từ gia đoạn Zoea 1đến Mysis 2, Gu và ctv. (1989) thấy rằng: ấu trùng được cho ăn Spirulina apletensis và S. platensis cộng với bột đậu nành, đạt kích cỡ 663-757 mm, dài hơn có ý nghĩa so với thức ăn đối chứng chỉ dùng bột đậu nành. Tỉ lệ tôm của nghiệm thức trên đạt 48-53%, cao hơn rất nhiều so với lơ đối chứng (11%).

Bảng 1:  Lớp và giống tảo nuôi dùng làm thức ăn cho các đối tượng thủy sản (Pauw và Person, 1991):

Lớp Giống Đối tượng cho ăn
Bacilariophyceae

Skeletonema

PL, BL, BP
  Thalassiosira PL, BL, BP
  Phaeodactylum PL, BL, BP, ML, BS
  Chaetoceros PL, BL, BP, BS
  Cyclindrotheca PL
  Bellerochea BP
  Actinocysclus BP
  Nitzchia BS
  Cyclotella BS
Haptophyceae Isochrysis PL, BL, BP, ML, BS
  Pseudoisochrysis BL, BP, ML
  Dicrateria BP
  Cricospaera BP
  Coccolithus BP
Chrysophyceae Monochrysis BL, BP, BS, MR
Prasinophycease Tetraselmis PL, BL, BP, AL, BS
  Pyramimonas BL, BP
Cyptophyceae Chroomonas BP
  Cryptomonas BP
  Rhodomonas BL
Xanthophyceae Olisthodiscus BP
Chlorophyceae Carteria BP
  Dunadiella BP, BS, MR
  Chlamydomonas BL, BP, FZ, MR, BS
  Chlorococcum BP
  Chlorella BL, ML, BS, MR, FZ
  Scenedesmus FZ, MR, BS
  Nannochloris BP, MR, SC
  Brachiomonas BP
Cyanophyceae Spirulina PL, BP, BS, MR

PL, Ấu trừng tôm biển                                              AL, Ấu trùng bào ngư

BL, Ấu trùng nhuyễn thể                                         MR, Luân trùng nước mặn

ML, Ấu trùng tôm nước ngọt                                   BS, Artemia

BP, Hậu ấu trùng nhuyễn thể                                 SC, Copepod nước mặn

                                                                                    FZ, Động vật phù du nước ngọt

Đọc thêm “Thực phẩm thực dưỡng – Tảo Spirulina (Tảo xoắn)”

TẠI ĐÂY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *