CÁCH HẠN CHẾ DÙNG KHÁNG SINH TRONG CHĂN NUÔI NHƯNG VẪN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐẦU RA

Trong những năm gần đây, khi việc sử dụng kháng sinh trong chăn trồng nói chung và chăn nuôi nói riêng bị hạn chế bởi sự quản lý chặt chẽ của Cục chăn nuôi và tiêu chí khắt khe của thị trường thì việc quan tâm đầu tiên của các trại nuôi heo là làm sao phải đáp ứng được tiêu chí trên nhưng chất lượng đầu ra vẫn phải đảm bảo.

VẬY GIẢI PHÁP THAY THẾ ĐÓ LÀ GÌ?

Theo Tiến sĩ Shelton, để giảm kháng sinh trong chăn nuôi heo ở Châu Á, các cơ sở chăn nuôi heo cần đảm bảo chế độ ăn cân bằng, và tăng cường chất khoáng như đồng và kẽm, cũng như thực phẩm được axit hóa. Việc sử dụng các chất phụ gia như probiotic, prebiotic, chất kích thích miễn dịch, các enzyme và các loại thảo mộc, tinh dầu và chiết xuất thực vật cũng cần được quan tâm hơn trước.

Và theo lời chuyên gia của Cargil, thì việc kết hợp các yếu tố ông vừa kể trên, chính là chìa khóa giúp cho chăn nuôi vẫn đạt năng suất cao dù sử dụng kháng sinh ít hơn trước.

Bên cạnh đó là nâng cao năng lực quản lý trại heo, điều này sẽ giúp tránh được nhiều yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chăn nuôi, mà điển hình là hiện tượng nuôi quá nhiều heo trong chuồng chật hẹp.

Cũng cần phải quan tâm tới hệ vi sinh đường ruột, mà hệ vi sinh đường ruột có hoạt động tốt hay không sẽ do thành phần thức ăn quyết định. Vì thế, người nuôi heo cần phải trau dồi kiến thức về hàm lượng dinh dưỡng trong các loại nguyên liệu thức ăn. Để biết thêm chi tiết kỹ thuật về hệ vi sinh đường ruột.

Yếu tố cuối cùng mà Tiến sĩ Shelton nhắc tới, đó là protein. Người nuôi heo cần ngăn chặn hiện tượng lên men các protein khó tiêu hóa xảy ở ruột già trên đàn heo của mình. Vì điều này dẫn tới việc cơ thể heo bị thiếu axit amin, và sẽ khiến heo chậm lớn, cùng với đó là ure trong máu cao, và hệ miễn dịch bị suy giảm.

CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ

  • HẠN CHẾ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH

Không sử dụng kháng sinh khi không có nhiễm khuẩn. Có rất nhiều căn bệnh gây bởi các nguyên nhân không phải do vi khuẩn. Ví dụ, sử dụng kháng sinh để điều trị cho các triệu chứng được chẩn đoán là bệnh hô hấp kinh niên ở gà (CRD) trong khi căn bệnh thực sự là viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) hay viêm phế quản truyền nhiễm (IB).

Sử dụng với mục đích phòng nhiễm trùng chỉ khi chứng minh được hiệu quả của nó.Ví dụ, phòng nhiễm trùng hậu phẫu là cần thiết nhưng phòng bệnh bằng kháng sinh cho những trang trại có biện pháp an toàn sinh học tốt có khi là lãng phí.
Không sử dụng kháng sinh có phổ rộng hoặc kháng sinh thế hệ mới trong khi kháng sinh có phổ hẹp, kháng sinh cũ vẫn có hiệu quả. Nhìn chung, kháng sinh phổ rộng dẫn đến sự đề kháng của nhóm vi khuẩn không phải mục tiêu điều trị (non-target microorganism) nhanh hơn kháng sinh phổ hẹp bởi vì các kháng sinh này tạo ra áp lực chọn lọc lên một số lượng lớn hơn các vi khuẩn.

Thường xuyên nắm bắt thông tin về tình hình dịch tễ và khả năng nhạy cảm kháng sinh của hệ vi khuẩn. Kết quả mẫn cảm kháng sinh từ các phòng thí nghiệm chẩn đoán thường dễ thiên lệch với khuynh hướng đề kháng cao hơn các mẫu lấy trước khi điều trị. Do đó, cần lấy mẫu ở cả trang trại, lò mổ và thực phẩm để biết sự đề kháng trong nhóm vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn thường trú.

Sử dụng đúng liều lượng, đường cấp và liệu trình. Sử dụng đúng liều lượng và đường cấp sẽ tránh được việc cung cấp dưới liều điều trị (sub-therapeutic dose), nguyên nhân mất hiệu quả và tăng đề kháng. Trong điều trị hàng loạt hay điều trị nhóm cá, heo, gà (mass or group medication), cả con vật bệnh và con vật khỏe đều cần được cấp thuốc ở liều điều trị nhằm ngăn chặn sự lan tràn của bệnh hoặc sự tái phát sau đó. Thời gian của một liệu pháp kháng sinh cũng không được quá ngắn (dưới 3 ngày) cũng không nên quá dài khi hệ thống phòng vệ có thể tiếp tục loại trừ mầm bệnh.

Không tự ý kết hợp nhiều kháng sinh khi không cần thiết. Kết hợp bừa bãi hoặc kết hợp quá nhiều kháng sinh có thể gia tăng độc tính, đối kháng dược lý và gia tăng đề kháng. Nếu kết hợp kháng sinh với mục đích ngăn ngừa đề kháng, các kháng sinh thành phần phải sử dụng nguyên liều lượng.

Có kế hoạch xoay vòng/ luân chuyển việc sử dụng kháng sinh. Cần có sự ghi chép cẩn thận và liên tục việc sử dụng kháng sinh trong cả thức ăn, nước uống hay tiêm chích của một trang trại. Điều này hỗ trợ việc sử dụng đúng, đủ và là cơ sở cho việc thay đổi kháng sinh theo chu kỳ 3 – 6 tháng ngay cả khi chưa phát hiện đề kháng với kháng sinh đang sử dụng.

  • KIỂM SOÁT ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH

Giảm sử dụng kháng sinh bằng cách: 

Tăng cường biện pháp vệ sinh môi trường (tẩy rửa, làm khô, dùng chất sát trùng, khử trùng) để hạn chế mầm bệnh;

Quản lý chăn nuôi tốt. Ví dụ, quản lý heo nái đẻ tốt, tránh các tổn thương cơ học ở cơ quan sinh dục sẽ hạn chế được việc dùng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn hậu sản. Quản lý heo con sai sữa tốt, hạn chế tốt đa stress sẽ hạn chế được lượng kháng sinh phòng trị tiêu chảy cho heo sau cai sữa;

Cấm dần việc sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trọng, thay vào đó là các chế phẩm sinh học (enzym, vitamin, prebiotic…) hoặc các chất kích thích có nguồn gốc thực vật;

Phòng bệnh bằng vắc xin thay thế việc phòng bệnh bằng kháng sinh.

Có quy định về việc sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, phòng mạch, nhà thuốc như phân loại các kháng sinh được kê toa tự do, nhóm dùng cho các mục đích đặc biệt, nhóm dự phòng.

Cách ly con bệnh khi nhiễm trùng có tính lây lan hoặc có thể mang vi khuẩn đề kháng.
Thông tin về lượng kháng sinh sử dụng, số liệu về nhạy cảm kháng sinh, tần xuất đề kháng của vi khuẩn phải được công bố và cập nhật trên các phương tiện thông tin chuyên ngành.

Giáo dục nhân viên y tế, thú y, người sản xuất và phân phối thuốc, người chăn nuôi, và người tiêu dùng về việc sử dụng kháng sinh an toàn và hiệu quả thông qua các khóa học, hội thảo và các phương tiện thông tin đại chúng.

Người chăn nuôi hãy là những nhà nuôi trồng thông thái để đảm bảo chất lượng đầu ra cũng như chủ động ngăn ngừa được các nguồn bệnh thông qua việc hạn chế sử dụng kháng sinh và vệ sinh chuồng trại thường xuyên.

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *